Chào mừng bạn đến với website Bệnh viện Đa khoa Sơn Tây

Địa chỉ: 304A Phố Lê Lợi, Phường Sơn Tây, Thành phố Hà Nội

Hotline: Đường dây nóng: 0966.40.1616

Chào mừng bạn đến với website Bệnh viện Đa khoa Sơn Tây

Địa chỉ: 304A Phố Lê Lợi, Phường Sơn Tây, Thành phố Hà Nội

Hotline: Đường dây nóng: 0966.40.1616

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ HOẠT ĐỘNG KHOA NGOẠI TỔNG HỢP – BVĐK SƠN TÂY

  1. Thời kỳ sơ khai và hình thành (Trước năm 1970)
  • Thời kỳ Pháp thuộc: Bệnh viện chưa chia thành các khoa riêng biệt mà chỉ có các nhà bệnh nhân Nội, Ngoại và phòng Đỡ đẻ. Do chưa có cán bộ chuyên môn phẫu thuật, bệnh viện chỉ thực hiện các tiểu phẫu như điều trị vết thương, chích áp xe; các ca đại phẫu đều phải chuyển về Hà Nội.
  • Giai đoạn năm 1956: Bệnh viện được phân bổ 100 giường bệnh nhưng vẫn chưa thể phân khoa do thiếu nhân lực. Bác sĩ Nguyễn Lung (Trưởng Ty y tế kiêm Giám đốc bệnh viện) là người trực tiếp điều trị cho các bệnh nhân ngoại khoa.
  • Thời kỳ chính thức hình thành khoa: Sau khi bác sĩ Nguyễn Lung đi học đại học Y khoa, tỉnh đã bổ sung bác sĩ Hoàng Văn Tần và y sĩ Trịnh Văn Chuyên cho bệnh viện. Lúc này, khoa Ngoại mới chính thức được hình thành và bắt đầu thực hiện được các thủ thuật như mổ ruột thừa, mổ thủng dạ dày, mổ lấy thai.
  • Giai đoạn 1962 – 1970: Năm 1962, bác sĩ Trần Văn Thiệp làm Giám đốc kiêm Trưởng khoa Ngoại. Quy mô bệnh viện đạt khoảng 200 giường, trong đó khoa Ngoại chiếm 35 giường; năng lực kỹ thuật phẫu thuật từng bước được nâng cao.
    • Từ năm 1965 đến 1970, các Giám đốc tiếp theo là bác sĩ Trần Công Tráng và bác sĩ Trịnh Đức Thám tiếp tục kiêm nhiệm vị trí Trưởng khoa Ngoại.
  1. Giai đoạn củng cố và phát triển kỹ thuật (1971 – 2007)
  • Giai đoạn 1971 – 1989:
    • Từ năm 1971 – 1976, bác sĩ Hồng giữ chức vụ Trưởng khoa. Trong thời gian bác sĩ Hồng đi học (1976 – 1978), bác sĩ Thiệp (Giám đốc bệnh viện) tiếp tục kiêm nhiệm quản lý khoa.
    • Năm 1980, bác sĩ Hồng hoàn thành khóa học và trở lại làm Trưởng khoa. Quy mô khoa tăng lên 45 giường, tập trung nâng cấp kỹ thuật mổ và phát triển chuyên ngành gây mê hồi sức. Khoa đã làm chủ được hầu hết các ca cấp cứu bụng, chấn thương lồng ngực, vết thương xương khớp, mở rộng mổ phiên và thực hiện thành công các kỹ thuật như cắt dạ dày, cắt 1/2 đại tràng, cắt nối tiểu tràng, điều trị thoát vị…
  • Giai đoạn 1990 – 2007:
    • Năm 1990, bác sĩ Hồng đi làm chuyên gia tại châu Phi, bác sĩ Nguyễn Hữu Sức được cử phụ trách khoa. Quy mô nâng lên 60 giường (trên tổng số 250 giường của bệnh viện), triển khai thêm các ca cấp cứu tiêu hóa, gan mật và tiết niệu.
    • Từ năm 1995 – 2007, bác sĩ Nguyễn Hữu Sức chính thức được bổ nhiệm làm Trưởng khoa, bác sĩ Nguyễn Khắc Hiền làm Phó Trưởng khoa.
    • Năm 1998, khoa Gây mê hồi sức chính thức được thành lập và tách độc lập ra khỏi khoa Ngoại Tổng hợp.
    • Từ năm 2002, bác sĩ Nguyễn Khắc Hiền được bổ nhiệm làm Giám đốc bệnh viện, bác sĩ Nguyễn Hữu Sức tiếp tục giữ vững cương vị Trưởng khoa.
  1. Giai đoạn chuyên khoa sâu và hiện tại (Từ 2007 đến nay)
  • Bước ngoặt tách khoa: Ngày 01/7/2007, khoa Ngoại Tổng hợp chính thức tách thành 2 khoa chuyên biệt: Khoa Ngoại chấn thương và Khoa Ngoại Tổng hợp.
  • Lãnh đạo khoa qua các thời kỳ:
    • Giai đoạn 2007 – 2009: Bác sĩ Nguyễn Hữu Sức làm Trưởng khoa.
    • Từ 05/10/2009 – 29/04/2013: Bác sĩ Phạm Tiến Dung là Phó Trưởng khoa, Phụ trách khoa.
    • Từ năm 2013 đến nay: Bs.CKII Phạm Tiến Dung giữ chức vụ Trưởng khoa.
  • Nhân sự hiện tại: Khoa gồm có 13 nhân viên, bao gồm:
    • 02 Bác sĩ Chuyên khoa II (Bs.CKII Phạm Tiến Dung – Trưởng khoa; Bs.CKII Nguyễn Văn Dương – Phó Trưởng khoa).
    • 01 Bác sĩ Chuyên khoa I.
    • 01 Bác sĩ.
    • 07 Điều dưỡng.
    • 01 Hộ lý.
  1. Cơ sở vật chất và Trang thiết bị

Khoa được đầu tư đồng bộ với hệ thống 13 phòng bệnh hiện đại:

  • 01 Phòng cấp cứu (04 giường): Trang bị đầy đủ thiết bị chăm sóc bệnh nặng như hệ thống oxy, máy hút, Monitor theo dõi dấu hiệu sinh tồn.
  • 08 Phòng bệnh (04 giường): Có trang bị hệ thống chuông bấm.
  • 04 Phòng bệnh theo yêu cầu.
  • Hệ thống kết nối công nghệ: Mạng internet liên kết vi tính phục vụ hội chẩn bệnh lý, hình ảnh hoặc các ca đang phẫu thuật trực tiếp với các bệnh viện tuyến trước.
  • Trang thiết bị phối hợp phòng mổ: Máy C-arm, máy nội soi đường mật, máy tán sỏi mật, hệ thống máy phẫu thuật nội soi hiện đại và máy tán sỏi tiết niệu Laser.
  1. Hoạt động chuyên môn và Thành tựu nổi bật
  • Mũi nhọn phẫu thuật nội soi: Phẫu thuật nội soi là phương tiện chiếm ưu thế tối đa trong điều trị các bệnh lý từ phẫu thuật chương trình (mổ phiên) cho đến cấp cứu trực tràng… giúp mang lại hiệu quả điều trị cao và nhận được sự tín nhiệm lớn từ người bệnh.
  • Bệnh lý Gan – Mật: Ứng dụng thành công máy nội soi tán sỏi trong đường mật để giải quyết triệt để sỏi đường mật, đặc biệt là sỏi trong gan. Đây là kỹ thuật mũi nhọn được thực hiện lần đầu tiên tại khoa.
  • Bệnh lý Hệ tiết niệu: Triển khai nhuần nhuyễn nhiều kỹ thuật chuyên sâu như: Cắt u bàng quang và u tiền liệt tuyến nội soi; tán sỏi thận qua da; phẫu thuật mổ mở điều trị sỏi thận san hô; nội soi tán sỏi niệu quản/sỏi bàng quang bằng laser; nội soi sau phúc mạc điều trị sỏi niệu quản.
  • Đào tạo và Chuyển giao: Khoa là cơ sở thực hành, hướng dẫn uy tín cho sinh viên, học sinh các trường Cao đẳng và Đại học Y Dược. Đồng thời, thực hiện tốt vai trò tuyến trên thông qua việc triển khai, hướng dẫn và chuyển giao thành công nhiều kỹ thuật phẫu thuật cho các đơn vị tuyến trước

 

Bình luận

Chat Zalo